SỰ MÊ HOẶC CỦA THẾ GIỚI ĐÁ CẢNH

04:04 |
Những người săn đá thường coi hành trình của mình là "cuộc tìm kiếm nhân duyên". Bởi khi được đem về, tuổi của viên đá có khi đã hàng triệu năm, lại qua sự bào mòn của dòng nước mới có hình dáng như khi được tìm thấy. "Duyên" là yếu tố đầu tiên để viên đá lộ ra với người, vào lúc nó xinh đẹp nhất.
 
Chơi đá cảnh không cầu kỳ và tốn nhiều công chăm chút như với hoa, bonsai hay chim chóc, nhưng nó mê hoặc người chơi theo cách riêng. Những viên đá thường có một không hai và cái đẹp còn ẩn giấu của nó chính là sự thử thách với "người đi tìm nhân duyên".
 
Ở TP HCM có bộ ba sưu tầm đá cảnh khá lâu năm là ông Trần Hòa Ân, Hồ Khiêm và Lê Công Quý. Bộ đá của mỗi người có cả nghìn viên, mang dáng dấp riêng biệt vì họ có gu khác nhau. Kỹ sư Hồ Khiêm, 55 tuổi, là một trong số ít người rành về đá vì ông tốt nghiệp ngành thạch học, rất thích loại có hình mặt người. Ông Quý, ông Ân lại chọn theo cảm hứng cái đẹp có thể chỉ được phát hiện ra sau khi đem về.
 
Theo ông Khiêm, đá cảnh có các loại: trầm tích, cát kết, sét kết và sỏi kết. Để có đá đẹp, người ta phải kiên nhẫn tìm kiếm trong những chuyến đi xa. Chính sự bào mòn của nước trong thời gian dài đã tạo ra những tác phẩm độc đáo nên đá đẹp thường hiện diện ở nơi có thác, suối...
 
Ông Ân, 65 tuổi, nhẹ nhàng nói về thú chơi không bỏ được này: "May mắn thì chỉ ra suối là nhặt được, nhưng không phải lúc nào cũng nhàn hạ như thế. Chơi đá đòi hỏi sự tìm kiếm lâu dài". Ngoài ra, sự hấp dẫn của viên đá lại nằm ở khả năng cảm nhận của từng người. Không những thế, chỉ cần thay đổi hướng nắng, không gian trưng bày là thay đổi cả "linh hồn" của đá. Ông Quý triết lý hơn, rằng việc ngắm nhìn vật phẩm tìm được trên những nẻo đường rong ruổi khiến ông thấy lòng bình an.
 
Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, đá cảnh màu (hay còn gọi là đá tự nhiên) ở Nha Trang rất đẹp, hơn hẳn đá thiên nhiên của Trung Quốc. Các khu vực khác ở miền Trung và Tây Nguyên cũng là nơi có rất nhiều tác phẩm đá cảnh kỳ thú.
 
Theo VnExpress

Cách phân loại đá Suiseki của người Nhật Bản

16:12 |
PHÂN LOẠI CƠ BẢN SUISEKI
Làm thế nào để ta có thể phân loại được một viên đá? Ở mỗi góc nhìn khác nhau nó cho ta hình con thỏ hoặc một con sư tử? Nó có thể được phân thành  “kiểu hình ảnh” hoặc “vật thể” ? Nếu nó là cả hai, ta phải chọn cách phân loại nào?
Chủ nhân vui lòng quyết định.
Trong thế giới đá cảnh, không chỉ có một cách để phân loại viên đá. Ảnh hưởng bởi những hệ thống phân loại truyền thống, phân loại đá cảnh vẫn là vấn đề tư duy và sự tinh tế của nhà sưu tập. Một viên đá thật ấn tương có thể hợp với nhiều cách phân loại, và nhà sưu tập được vinh dự chọn cách phân loại nào mà họ cảm thấy nó làm nổi bật tính thiên nhiên nhất của viên đá. Để có một cái tên hay cho tác phẩm thì cần phải tìm được cách phân loại tối ưu.
Trong khi người Trung Hoa phân loại đá của họ dựa vào nguồn gốc, thì người Nhật, Triều Tiên và phương Tây sử dụng nhiều hệ thống phân loại khác nhau, một trong số đó là hình dáng, màu sắc, kiểu hình ảnh bề mặt…
Nói chung, có dùng một hoặc hai cách phân loại thì cũng nhằm mục đích là đặt tên cho một suiseki.
Trật tự đặt tên tác phẩm suiseki của người Nhật: (nếu có hơn một hệ thống phân loại được đề nghị).
  • nơi xuất xứ
  • kiểu bề mặt
  • màu
  • hình dáng
  • một cái tên đầy chất thơ được dùng sau lần phân loại cuối cùng
  • hiếm khi sử dụng cả bốn tiêu chí này.
Hầu hết người Mỹ phân loại suiseki theo hình dáng hay kiểu dáng bề mặt, đôi khi theo nguồn gốc, và để tăng tính phổ biến thì thêm một cái tên có chất thơ phú.
Các nhà sưu tập Nhật bản cũng sử dụng những kiểu phân loại sau:
  • Biseki:
    • đá đã được mài và đánh bóng để làm tăng vẻ đẹp của chúng.
    • không cần có một hình dáng gợi cảm như suiseki, mà cần hình dáng bắt mắt hiện trên bề mặt đá do chất liệu tạo thành.
    • thường được trưng bày với suiseki.
    • những nhà sưu tập Nhật bản thích khắc hoặc đánh bóng để tăng kiểu hình hoa hoặc màu của nó.
  • Meiseki (đá nổi tiếng):
    • Suiseki hay biseki nổi tiếng bởi chất lượng và vẻ đẹp nổi bật
    • Thường được truyền qua nhiều thế hệ có khi được cả hàng trăm năm.
  • Yuraiseki (đá lịch sử):
    • Suiseki hoặc biseki được sở hữu bởi những người nổi tiếng trong lịch sử.
    • Suiseki hoặc biseki được gắn liền với những sự kiện lịch sử.
  • Reiheki (dốc sườn):
    • hình những dòng chảy thẳng đứng.
    • bề mặt bị ăn mòn sâu.
    • hình dạng cong xoắn.
    • đá có những lỗ thủng thấu quang.
Dưới đây là danh sách cách phân loại theo mỗi nền văn hóa:
CÁCH PHÂN LOẠI CỦA NGƯỜI NHẬT BẢN
I. PHÂN LOẠI THEO HÌNH DÁNG
Sansui keiseki/Sansui keijo-seki: đá có hình dáng phong cảnh :
  • Yamagata-ishi: đá có hình dáng núi. Hình dáng núi nhìn từ xa (viễn cảnh) hoặc nhìn gần (cận cảnh) hoặc vài ngọn núi.
    • Toyama-ishi/Enzan-seki Hình dáng núi nhìn từ thật xa (viễn cảnh)
    • Kinzan-seki Hình dáng núi nhìn gần (cận cạnh).
    • Koho-seki có dáng như núi với chỉ một đỉnh.
    • Koho-seki có dáng như núi đôi (hai núi hoặc một núi đơn với hai đỉnh ).
    • Sampo-seki có dáng như ba đỉnh (các núi với ba đỉnh riêng biệt)
    • Rempo-seki có dáng như dãy núi (dãy của các núi nhiều hơn một núi đơn với một hoặc nhiều đỉnh riêng biệt).
    • Seigaku-seki có dáng như núi xù xì, gồ ghề (các đá núi với hình dạng xù xì đặc trưng).
    • Sekkei-ishi có dáng như núi phủ tuyết (các đá núi với khóang giống như tuyết ở đỉnh hoặc sườn)
  • Taki-ishi  có dáng như thác nước (tương tự núi với một hoặc nhiều thác nước. Ám chỉ thác nước bởi mạch khóang màu trắng ở trên đỉnh của đá đi thẳng xuống)
    • Itodaki-ishi có dáng như dòng thác nước ( ám chỉ bởi một dòng mỏng giống thạch anh chảy xuống phía trước đá)
    • Nudodaki-ishi có dáng như mảng thác nước ( Những đường rộng của vỉa màu sáng đi xuống phía trước sườn của đá)
    • Karedaki-ishi có dáng như thác nước cạn Yamagata-taki-ishi có dáng như núi thác nước (các đá núi với một hoặc nhiều các thác nước xuất hiện trên bề mặt phía trước của chúng)
    • Keiryu-seki có dáng như suối núi ( suối chảy qua làng, thường thường mạch thạch anh trắng nơi dòng suối đã chảy. Lý tưởng nếu suốI chảy theo đường chéo (zíc zắc) Ví dụ: từ trước ra sau)
  • Dan-seki/Dan-ishi có dáng như Cao nguyên ( bậc thang sườn đồi hoặc một loạt bậc thang phẳng nâng lên hướng về vách đá. Kiểu cổ có ít nhất ba bậc khác nhau về chiều dài, bậc thang nên thẳng đứng hoặc gần thẳng đứng).
  • Shimagata-ishi có dáng như hòn đảo ( giống như hòn đảo nhô lên từ mặt nước, thấp đến cao, tương tự vịnh nhỏ hoặc cái lạch (giữa hai hòn đảo) thông thường trưng bày trong suiban hoặc doban chứa cát hoặc nước để làm nổi bật hòn đảo).
  • Doha-seki/Doha-ishi có dáng như dốc ( tương tự những đồi dốc của vùng đồng bằng hoặc một con dốc nhẹ nâng lên tạo thành đồi).
  • Isogata-ishi có dáng như bờ biển (thường nông và ám chỉ một rặng đá dải đất ven bờ).
    • Araiso/Araiso-ishi có dáng như đá ngầm (các loạI đá thô ám chỉ mép gồ ghề hoặc đồi cát nhỏ nhô lên khỏi mặt biển).
    • Hirasu/Hirasu-ishi : có dáng như dãy cát dài ở cửa biển
    • Misaki-ishi: có dáng như mũi đất
  • Mizutamari-ishi có dáng như có hồ trên núi.
  • Tamari-ishi có dáng như hồ nhỏ hay hồ
  • Mitzutame-ishi có dáng như ao.
  • Iwagata-ishi có dáng như dãy đá ở bờ biển (Tương tự dạng bờ biển lộng gió; vách đá dốc giống như bị sóng đánh).                                                                                             
  • Dokutsu-ishi có dáng như hang hốc sâu và tối.
  • Yadori-ishi  có dáng như hang động.
  • Amayadori-ishi có dáng như hang động trú mưa.
Keisho-seki Vật thể
  • Yagata-ishi có dáng như nhà ở (nhiều loại nhà của những dân tộc khác nhau)
    • Kuzuya-ishi có dáng như nhà tranh
  • Funagata-ishi có dáng như con thuyền (các loại thuyền khác nhau như thuyền gỗ, bườm, thuyền nhà. 
  • Hashi-ishi có dáng như chiếc cầu kể cả cầu gỗ.
  • Dobutsu-seki có dáng như động vật
  • Torigata-ishi có dáng như con chim.
  • Mushigata-ishi có dáng như côn trùng (đặc biệt là con bướm, chuồn chuồn, dế, cào cào).
  • Uogata-ishi có dáng như con cá (đặc biệt là cá vàng)
  • Sugata-ishi/Jimbutsu-seki có dáng như người (đặc biệt là dân câu cá, nông dân, thiếu nữ, đức Phật, hòa thượng, hoặc các bộ phận cơ thể của người.)
  • Sankeishi-seki   có hình dáng của ba chủ đề khác nhau khi nhìn từ ba góc độ
II. PHÂN LOẠI THEO MÀU
  • Kuro-ishi có màu đen
  • Maguro-ishi có màu đen tuyền
  • Aka-ishi có màu đỏ
  • Ao-ishi có màu xanh dương
  • Murasaki-ishi có màu tím
  • Ogon-seki có màu vàng
  • Kinko-seki có màu vàng đỏ
  • Goshiki-ishi/Goshiki-seki có 5 màu (sự pha trộn của màu đỏ, vàng và xanh lục cùng với xám xanh dương, tím, trắng và đen.)
III. PHÂN LOẠI THEO HÌNH ẢNH TRÊN ĐÁ
Do các khóang vật tạo đá hoặc tạp chất xen lẫn vào đá nhưng có màu sắc khác biệt chúng tạo ra những hình ảnh nổi bật nói lên một chủ đề nào đó.
Kigata-ishi có hình thực vật
  • Mori-ishi có khung cảnh rừng
  • Bonsai-ishi có hình Bonsai (cả cây và chậu.)
  • Hanagata-ishi có hình bông hoa:
    • Kikumon-seki/Kikka-seki/Kiku-ishi có hình đóa hoa trong vườn to như hình quả bóng.
    • Baika-seki có hình hoa Cúc đại đoá của Nhật.
    • Nobara-ishi có hình bông hồng dại.
  • Migata-ishi có hình trái cây.
  • Hagata-ishi  có hình chiếc lá hoặc nhánh hoa
  • Kusagata-ishi có hình thảm cỏ (thảm cỏ bụi tre)
Gensho-seki có hình bầu trời 
  • Tsukigata-ishi có hình mặt trăng
  • Higata-ishi có hình mặt trời (màu của đá thể hiện màu của mặt trời mọc, lặn)
  • Hoshigata-ishi có hình ngôi sao
Tenko-seki có hình thể hiện hiện tượng thời tiết 
  • Amagata-ishi có hình thể hiện mưa
  • Yukigata-ishi có hình thể hiện tuyết rơi
  • Raiko-seki có hình thể hiện sét, sấm chớp
Chusho-seki có hình thể hiện sự trừu tượng
  • Tori-ishi có hình thể hiện dáng của con cọp
  • Tangled-net-pattern stones có hình thể hiện lưới đánh cá.
  • Jagure có hình thể hiện dáng của con rắn.
  • Moniri-ishi có hình thể hiện cảnh vui nhộn
IV. PHÂN LOẠI THEO NGUỒN GỐC KHAI THÁC
  • Kamogawa river stones Đá đen huyền loại đá hình núi nhìn xa và sườn đồi được tìm thấy ở sông Kamogawa tại Kyoto.
  • Kurama stones Đá granite nâu hình đảo, núi xa, đá vôi nâu xám có hình lưới cá tìm thấy gần sông Kamogawa, Kyoto.
  • Kibune stones Hình núi, thác nước, núi có suối màu tím, đỏ đậm, xám tìm thấy quanh sông Kamgawa.
  • Setagawa river stones Hình núi đen, sườn đồi, hình rằn ri da hổ tìm thấy ở sông Setagawa tại Shiga và Kyoto.
  • Nachiguro stones Hình núi đá đen hoặc bình nguyên từ núi đá ở Mie.
  • Kamuikotan stones Đá xanh đen loại đá hình núi nhìn xa, bình nguyên và sườn đồi được tìm thấy ở sông và suối Hokkaido.
  • Sado red stones hình đảo và núi đỏ lấy từ núi ở Niigata.
  • Ibigawa river stones Hình bờ biển, đảo, hồ nước, chỗ ở hoặc thác nước từ sông và suối ở Gifu.
  • Sajigawa river stones Hình bờ biển, đảo, hồ nước, chổ ở hoặc thác nước có màu đen hay xanh đen đậm từ sông và suối ở Tottori.
  • Furuya stones Hình bờ biển, đảo, hồ nước, chỗ ở hoặc thác nước từ sông và suối ở có màu đen hay xám đen từ Wakayama.
  • Seigaku stones Hình bờ biển, đảo, hồ nước, chỗ ở hoặc thác nước từ sông và suối ở có màu đen hay xám đen từ Shizuoka.
  • Neodani stones Nhiều loại đá bao gồm hình hoa cúc đại đóa tìm thấy từ Gifu.
Có phân chia thế nào thì người Nhật vẫn chỉ thường dùng hai cách phân loại suiseki là Hình dáng và Kiểu thức bề mặt đá (vân thạch) mà thôi.

Suiseki là gì ?

16:11 |
Danh từ Suiseki phát âm tiếng Việt là “Sư sê ki”. Suiseki là một từ ngữ Nhật Bản với "Sui" nghĩa là "thủy" (nước). "Seki" là "thạch" (đá), là nghệ thuật thưởng ngoạn đá khi đá vẫn giử được điều kiện tự nhiên của chúng. Suiseki thường được trưng bày trên đế gỗ đã chạm khắc gọi là Dai hay Daiza hoặc khi chúng được trưng bày trên khay làm sứ hoặc đất nung có rải cát hay hạt mịn hoặc nước Suiban. Trải qua nhiều nước, tên của nghệ thuật này cũng có khác nhau. Tại Trung Hoa, suiseki được gọi là Gongshi (hay Qishi), đá hiếm hoặc Guaishi, đá lạ hoặc đá chế tác. Tại Triều tiên, suiseki đuợc gọi là Suseok, là đá vĩnh cửu. Ở phương Tây gọi là đá thưởng ngoạn (viewing stone). Còn ở Việt Nam suiseki được gọi là đá cảnh.

 

Nghệ thuật thưởng ngoạn đá bắt đầu từ hơn 1000 năm trước tại Trung Hoa, sau đó lan sang Triều Tiên, Nhật Bản, qua phương Tây trong vòng 100 năm trở lại đây và những nước khác trên thế giới. Ngày nay, Suiseki cũng giống như Bosai trở thành thú chơi toàn cầu. Các hiệp hội , câu lạc bộ Suiseki ngày càng xuất hiện nhiều trên toàn thế giới như tại Nhật có Nippon suiseki association, ở Châu âu có Italian association of Suiseki lovers… các cuộc thi thường được tổ chức bởi những tổ chức uy tín này.

Suiseki được giới thiệu sang Nhật trong Triều đại Nữ Hoàng nhiếp chính Suiko khoảng 600 năm sau Công nguyên như là món quà từ Hoàng đế Trung Hoa. Tại Nhật, vì đất chật người đông, họ đã tìm cách thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên qua cảnh vật thu nhỏ như Bonsai và Suiseki. Dân tộc này có biệt tài là thu dụng những cái hay, cái đẹp của nước ngoài, biến hóa thành của mình với những nét đặc trưng riêng mang nặng bản sắc văn hóa thiền định “Zen”.

Đối với phương Tây, suiseki được coi là đá có hình ảnh trừu tượng, kỳ lạ, nhưng gây ấn tượng mạnh. Chúng có hình dáng đẹp và phá cách thường được đặt theo chiều đứng, uốn khúc, lồi lõm gây ấn tượng sâu sắc, với những lỗ thủng lớn nhỏ, khe sâu được tạo ra do sự bào mòn, phong hóa trong thiên nhiên.

Nghệ thuật chơi của người Trung Hoa trở nên phổ biến ở Nhật, nhưng rồi thời gian trôi qua, người Nhật đã thay đổi phong cách chơi khác với người Trung Hoa như đổi thế chơi đứng sang thế nằm, với hình dáng phong cảnh, đồi, cao nguyên, bình nguyên, hoặc các chủ đề khác như con người, thú vật, cây cỏ.
 
Người Nhật thường tự hào rằng sau khi thú chơi đá đến Nhật Bản nó đã có những biến đổi mới lạ với xu hướng chung là bóng tối đã đánh bại màu sắc, đặc biệt màu đen sẫm được coi là lý tưởng, ngược lại trong nền văn hóa của Trung Hoa nhiều viên đá loè loẹt thường được đánh giá cao. Cũng như thế, cách trưng bày một suiseki phải theo nghi thức, ví dụ cách trưng bày Tokonoma, là sự phát triển của người Nhật, trong khi đó ở Trung Hoa các viên đá thường được trưng bày lộn xộn với nhau.

Như vậy, Gongshi (hay Qishi) xuất phát từ Trung Hoa nhưng lại phát triển nhất ở Nhật Bản và bây giờ thì cả thế giới cùng chơi và phát triển theo những cách thức có đôi chút khác nhau nhưng tựu chung vẫn dựa trên cách phân loại truyền thống theo 4 tiêu chuẩn chính: Hình dáng, xuất xứ, kiểu thức bề mặt viên đá và màu sắc. Nếu có thêm thắt cũng chỉ là phân loại theo kích thước như đá nhỏ (thấp hơn 15cm), đá tầm trung (15 đến 45cm), cao (từ 45cm trở lên), cách khác là phân loại theo sự biến cải có nghiã là giữ viên đá nguyên bản hay chế tác, gọt giũa thêm cho đá có hình dáng đẹp hơn.

Do đâu mà người Nhật lại biến chế cách chơi đá của người Trung Hoa? Chính là do bản sắc văn hóa đặt trưng của người Nhật. Văn hóa Nhật thấm nhuần tinh thần Thiền Tông trong nhiều lĩnh vực: thi ca, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, sân khấu, đình viên cho đến trà đạo, hoa đạo, võ đạo. Không những ảnh hưởng đến nghệ thuật, Thiền còn đi vào đời sống thường ngày của người dân Nhật như trong ẩm thực, nghỉ ngơi và cả trong kinh doanh. Đã không sai lầm khi nói rằng Thiền đã trở thành sinh mệnh và cốt tủy của nền văn hóa Nhật. Nhiều quốc gia cũng chịu ảnh hưởng Thiền Tông, nhưng không nơi nào thấm nhuần đến mức độ sâu sắc và bền vững như nền văn hóa của nước này "Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền".

Hiện nay ở Nhật có ba Thiền phái sau:
 

 
Thiền Lâm Tế (Rinzai Sect): Dòng Thiền này do công khai sáng của Thiền sư người Nhật – Vinh Tây (Eisai -1141 - 1215).

Thiền Tào Động (Soto Sect): Thiền Tào Động được Thiền sư Đạo Nguyên (Dogen - 1200 - 1253) khai sáng. Đạo Nguyên vốn là đệ tử của Ngài Vĩnh Tây, sau đó ông sang Trung Hoa du học và trở về Nhật Bản xây dựng Thiền phái này.

Thiền Hoàng Bá (Obaku Sect): Đây là Thiền phái thứ ba của người Nhật, có tầm ảnh hưởng ít hơn hai Thiền phái kể trên, do Thiền sư người Trung Hoa Ẩn Nguyên (Yin Yuan 1592 - 1653) khai sáng.

Nhìn chung lại cả ba Thiền phái trên đã phát triển mạnh tại Nhật và có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tâm linh của người Nhật.

Cả ba đều có nhiều trường đại học, nhà xuất bản kinh sách riêng, cơ quan từ thiện, xã hội... Không những thế, Thiền đã ăn sâu vào tiềm thức của người Nhật: Trà đạo, Nghê thuật cắm Hoa, nghệ thuật Suiseki, Hoa đạo, Thư pháp... Một trong những ảnh hưởng lớn với nền văn hóa này là Thiền Tông.

Ở Việt Nam, theo quan điểm riêng của cá nhân tôi nhận thấy rằng chúng ta thu nhập thú chơi này là một tất yếu vì đó là thú chơi thanh tao, và vì dân tộc ta là dân tộc ham học hỏi, biết thu dụng những cái hay, cái đẹp của nước ngoài, biến hoá, chọn lọc làm thành cái hay cho mình vậy. Tuy nhiên, cũng nên biến cải để sao cho thú vui đó trở thành phổ thông mang tính đại chúng, với số lượng người chơi càng nhiều càng tốt. Vấn đề nào cũng có mặt trái của nó, việc chơi đá một cách cứng nhắc như người Nhật (mang tính thiền định) sẽ giảm bớt tính đại chúng, mà không có tính đại chúng thì làm sau phát triển lên thành một sân chơi lớn, và chỉ trong sân chơi lớn mới có những ngôi sao sáng thật sự được. Từ những ngôi sao này, sẽ tạo thế đứng cho chúng ta trên sân chơi lớn, làm rạng danh đất nước mệnh danh là rừng vàng biển bạc.

(Cayvada.net)